Chi tiết tin

Phụ nữ miền Nam đã phát huy ưu thế của giới mình trong cả 3 mũi giáp công

Trong từng cuộc, kết hợp với hoạt động của lực lượng vũ trang, phụ nữ đã chuẩn bị gậy gộc, dao mác, dây, súng bập dừa, mõ, trống

Trong từng cuộc, kết hợp với hoạt động của lực lượng vũ trang, phụ nữ đã chuẩn bị gậy gộc, dao mác, dây, súng bập dừa, mõ, trống, phèng la, đốt ống lói, ban đêm áp đảo tinh thần kẻ địch, ban ngày kéo nhau thành đoàn biểu tình tiến thẳng vào các công sở, đồn bốt vừa đấu tranh trực diện, vừa lôi kéo, làm tan rã các lực lượng kìm kẹp của địch. Hình thức "tản cư ngược" của chị em khi địch tổ chức càn quét lớn vào các vùng nông thôn giải phóng, mở đầu từ trận chống càn Định Thủy tháng 1-1960, đã trở thành bài học kinh nghiệm cho các tỉnh, các vùng nông thôn khác ở miền Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh đặc biệt của Mỹ và chính quyền Sài Gòn (1960 - 1965). Sự ra đời của "đội quân tóc dài" là sự sáng tạo độc đáo của đường lối đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang trong cách mạng miền Nam, làm cho sức mạnh của phong trào phụ nữ miền Nam được nhân lên gấp nhiều lần, đủ sức đảm bảo cho phong trào đấu tranh thắng lợi.
Đối với binh lính, các chị lôi kéo chồng, con, em mình bỏ ngũ, giải thích chính nghĩa cho binh lính, hù dọa làm cho chúng hạ súng, bỏ đồn, cao hơn là giác ngộ cách mạng, xây dựng tổ chức ngay trong lòng địch. Khả năng binh vận của chị em đã đạt hiệu quả rất cao vì đó là tiếng nói từ đáy lòng người mẹ, người vợ, đã giải phóng chồng, con, em mình ra khỏi cảnh chết chóc, làm bia đỡ đạn thay cho bọn cướp nước và bán nước.
 
Phụ nữ miền Nam với chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ (1966 -1975)

Trong chiến tranh cục bộ, nhân dân miền Nam phải đương đầu trực tiếp với đội quân viễn chinh Mỹ và chư hầu mà tính chất, cường độ của chiến tranh cực kỳ ác liệt. Thế nhưng, phong trào đấu tranh chính trị của phụ nữ vẫn phát triển cả ở nông thôn và thành thị.
Text Box: Đấu tranh chính trị Phụ nữ Miền NamỞ nông thôn có thêm các khẩu hiệu, hình thức và hành động mới như: các mẹ, các chị cản đầu xe M113 không cho xe cán lúa, cán hoa màu, cản xe ủi đất không cho ủi nhà, bịt nòng súng không cho bắn vào xóm làng, níu kéo lính Mỹ khi chúng đốt nhà, chống lính Mỹ hiếp phụ nữ, chống bắt thanh niên đi lính để làm bia đỡ đạn cho giặc Mỹ. Mặt khác, đồng bào và chị em đã khéo léo khai thác những mâu thuẫn sâu sắc giữa quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, khêu gợi tinh thần dân tộc chống Mỹ xâm lược, chống bọn bán nước, chống lệnh đi càn, đòi giải ngũ, đòi hòa bình, độc lập. Đối với lính Mỹ và quân các nước chư hầu, phong trào đấu tranh chính trị ở khắp miền Nam chống chiến tranh xâm lược đã khơi sâu tâm trạng hoang mang, chán nản, bất mãn chống cuộc chiến tranh phi nghĩa, khuyến khích những hành động phản kháng chống đốt phá, giết người, cướp của, đòi về nước...
Ở các thành thị, nhiều phong trào mở đầu do lực lượng phụ nữ, như phong trào Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ, Bảo vệồ văn hóa dân tộc, bài trừ văn hóa ngoại lai đồi trụy, đã lôi kéo đông đảo các tầng lớp, từ công nhân lao động, đến thanh niên trí thức, nhân sĩ, các nhà tư sản dân tộc, các chức sắc trong các tôn giáo... tham gia.
Trong phong trào thanh niên học sinh, sinh viên những năm chống chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh, vai trò của nữ sinh viên nổi bật bên cạnh nam thanh niên chiến đấu trên đường phố chống bom cay, dùi cui của cảnh sát dã chiến, làm đầu mối xung kích tiếp tế cho lực lượng thanh niên chiếm tòa đại sứ Lonnon phản đối việc tàn sát Việt kiều ở Camphuchia, trong đó nổi bật vai trò của các ni cô Tịnh xá Ngọc Phương dưới sự lãnh đạo của ni sư Huỳnh Liên, đặt biệt chiến dịch đốt xe Mỹ do chính một nữ sinh viên chỉ huy.
Từ năm 1965 đến năm 1975, ở thành thị nhiều tổ chức phụ nữ đã hình thành và tham gia đấu tranh như: Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền sống, Giáo hội khất sĩ nữ giới Việt Nam, Đoàn nữ phật tử Long Hoa, Hội nữ phật tử Việt Nam, Đoàn nữ phật tử giáo chức, Nghiệp đoàn tiểu thương 36 chợ đô thành, Hội các bà mẹ có con ở tù, v.v... Nhiều cuộc đấu tranh với các hình thức độc đáo do các chị tổ chức như cuộc biểu tình ngồi của ni sư và phụ nữ ở ngay trung tâm thành phố. Suốt năm 1974, các cuộc đấu tranh của chị em tiểu thương 36 chợ Sài Gòn lôi cuốn cả chị em tiểu thương ở các tỉnh Bến Tre, Cần Thơ. Sau khi Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris và rút quân, phong trào đấu tranh chính trị ở thành thị, nông thôn kết hợp với hoạt động vũ trang càng sôi nổi, nhất là vào những năm tháng cuối của cuộc chiến tranh.
Thời gian này tinh thần của binh lính và sĩ quan quân đội Sài Gòn ngày càng rệu rã; hoạt động binh vận của các mẹ, các chị đối với những người thân đã có tác dụng thật to lớn khi cuộc chiến sắp đến ngày kết thúc. Chỉ tính riêng ở một số tỉnh Nam Bộ trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 4 -1975 đã có trên 50.000 binh sĩ, sĩ quan địch đào ngũ. Và hiện tượng tan rã đồng loạt của 40 vạn quân địch trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, không phải không có công lao tác động về tinh thần của những người mẹ, người vợ, người chị... miền Nam.
Có phải chiến tranh không mang gương mặt phụ nữ?
Bản chất của người phụ nữ bất kể thuộc dân tộc nào, thời đại nào, đều yêu hòa bình, sản sinh và nuôi dưỡng những con người của các thế hệ nối tiếp nhau, và hầu như đều có chung một nguyện ước: loài người sống bình an bên nhau. Chiến tranh đã đem đến cho người phụ nữ ở bất cứ đất nước nào, những đau khổ lớn hơn nam giới gấp nhiều lần. Việt Nam có câu "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh". Khi người phụ nữ bắt buộc phải cầm vũ khí thì ý nghĩa của cuộc chiến đấu đó thật là sâu sắc, vì họ cầm vũ khí chính là để bảo vệ hòa bình, giữ gìn sự sống cho những con người chân chính mà họ đã sinh ra, chống lại những thế lực phi nhân muốn hủy hoại con người.
Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt nam, phụ nữ miền Nam là lực lượng xung kích, là "đội quân tóc dài" trên mặt trận đấu tranh chính trị; trong đấu tranh vũ trang, phụ nữ miền Nam cũng không kém nam giới về mưu trí và lòng dũng cảm. Chị Nguyễn Thị Định, Hội trưởng Hội Liên Hiệp Phụ Nữ giải phóng miền Nam Việt Nam, vừa là Phó tư lệnh Lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam, cùng với hàng trăm nữ anh hùng lực lượng vũ trang sản sinh ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ (chỉ riêng Nam Bộ đã có 51 nữ anh hùng được tuyên dương) là những minh chứng. "Người mẹ cầm súng", đó là một biểu tượng dường như nghịch lý, nhưng rất chân thực, thể hiện sự hòa hợp của tính chất rất anh hùng mà cũng rất mực nhân hậu trong người phụ nữ Việt Nam.
Phụ nữ miền Nam ở chiến trường đô thị
 Ở thành thị, các đội đặc công, biệt động nữ cũng đã thực hiện nhiều trận đánh vào cơ quan đầu não của địch; nữ biệt động Sài Gòn cùng với một số đơn vị bạn đánh vào nơi ở của số sĩ quan, binh lính Mỹ như khách sạn Brink, Caravelle....Trong chiến dịch Mậu Thân 1968 biệt động nữ đã lọt vào được nhiều cứ điểm quan trọng như bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, tòa Đại sứ Mỹ. Tiểu đoàn Lê Thị Riêng trước đó thường hoạt động ở vùng Bến Cảng, Vĩnh Hội, Xóm Củi, do chi Lê Thị Bạch Cát làm tiểu đoàn trưởng, trong chiến dịch Mậu Thân 1968 đã trực tiếp đánh vào trại Quyết Tiến và sân bay Tân Sơn Nhất. Đội nữ dũng sĩ thành phố Đà Nẵng đã đương đầu với hàng tiểu đoàn hiến binh và cảnh sát địch bằng mọi thứ vũ khí có trong tay. Tiểu đội nữ tự vệ Huế gồm 11 người đã đánh bại cả một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ diệt hơn 100 tên.
Trong những năm sau Mậu Thân, phụ nữ thành phố vẫn tiếp tục phát huy ưu thế của mình, đánh địch trong nội thành Sài Gòn, như tiến công cư xá sĩ quan Mỹ đường Trần Hưng Đạo, khách sạn Kỳ Sơn, tòa hành chính Gia Định, nhà hàng Mỹ Phụng, khách sạn Tự Do. Nữ biệt động các thành phố Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế, Đà Lạt và nhiều thị xã như Bến Tre, Cà Mau, Tây Ninh, Đồng Nai... cũng đã lập được nhiều chiến công.
Cũng phải kể đến chiến dịch đốt xe Mỹ của phong trào học sinh, sinh viên Sài gòn trong những năm Mậu Thân do nữ sinh viên Võ Thị Bạch Tuyết làm thủ lĩnh. Đây là một hoạt động đánh địch sáng tạo ngay trong thành phố trung tâm đầu não địch. Lực lượng chiến đấu thiên biến vạn hóa, bằng các đội xung kích "Sao Băng", "Sao Chổi", "Trường Sơn", "Ký Con",v.v... xuất hiện khắp nơi khiến lính Mỹ phải khiếp sợ, xe Mỹ co rút. Khi chị Võ Thị Bạch Tuyết bị địch bắt, chúng tịch thu một cuốn sổ tay ghi số liệu tổng kết: 117 xe Mỹ bị sinh viên học sinh đốt trong chiến dịch này.
Phụ nữ miền Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975
Khí thế tiến công mãnh liệt, thần tốc của lực lượng vũ trang cách mạng trên khắp các chiến trường đã làm cho tinh thần binh sĩ, sĩ quân địch hoang mang tan rã. Phụ nữ miền Nam phát huy sở trường của mình làm công tác binh vận rất có hiệu quả. Nổi bật nhất vẫn là việc chị em đã tiếp tục phát huy thế tiến công bằng ba mũi giáp công để chiếm đồn bốt địch ở sơ sở, tiến lên khởi nghĩa chiếm tiểu khu, chi khu, công sở, buộc địch phải đầu hàng, giải phóng nhiều vùng nông thôn giành chính quyền ở khóm, phường nhiều thành phố, thị xã, thị trấn. Ở ngay nội thành Sài Gòn, lực lượng phụ nữ đã làm nòng cốt trong nhiều cuộc khởi nghĩa như ở Phú Nhuận, Bảy Hiền, Khánh Hội, Bàn Cờ, Xí nghiệp Liên Phương, Sicovina, Vimytex, Vinatexco, bệnh viện Đồn Đất v.v...
Ngày 30-4-1975 khi đại quân tiến vào Sài Gòn, người dẫn đường cho bộ đội là nữ giao liên Nguyễn Trung Kiên đã dẫn đầu xe tăng của Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập.
Phụ nữ miền Nam "giỏi việc nước, đảm việc nhà"
Trong những năm đen tối ở miền Nam, phụ nữ phải gánh chịu nhiều đau khổ do các chính sách hà khắc, man rợ của địch, là người đấu tranh ngoan cường, chẳng những trên lĩnh vực đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, đồng thời còn giữ vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực âm thầm khác trong cuộc đấu tranh trường kỳ.
 ·  Che giấu, nuôi dưỡng cán bộ: Vào những năm đầu dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, nhân dân miền Nam sống trong không khí ngột ngạt bởi chính sách khủng bố đàn áp, truy lùng Việt cộng. Chúng muốn biến nhân dân miền Nam thành lực lượng chống đối cách mạng. Nhưng nhân dân, nhất là phụ nữ, chị em đã dùng trăm phương nghìn kế để bảo vệ cán bộ, bảo vệ cách mạng. Giặc bắt chị em đi truy cán bộ, khi gặp cán bộ, chị em không tri hô, không chỉ giặc bắt mà còn tìm mọi các để chỉ đường cho cán bộ chạy trốn, ẩn nấp. Trong nhà tù, giặc đánh đập, tra tấn bắt khai báo, chị em thề chết không khai, không nhìn mặt. Trong thôn, ấp phường, khóm, lợi dụng thế công khai hợp pháp, chị em vận động tổ chức những đội dân canh chống cướp bảo vệ xóm làng, thực chất là tổ chức bảo vệ che giấu cán bộ, trừng trị bọn đi lùng sục tìm bắt cán bộ. Khắp miền Nam, không nơi nào lại không có những hình ảnh người phụ nữ, dù bị địch thường xuyên bao vây, rình mò, vẫn ngụy trang đón cán bộ vào nhà, đào hầm bí mật trong nhà, ngoài vườn nuôi dưỡng, che giấu hoặc tiếp tế lương thực, thực phẩm cho lực lượng cách mạng ở khu du kích. Có biết bao nnhiêu tấm gương chói lọi trong lĩnh vực này như mẹ Huỳnh Thị Lục dân tộc Châu Mạ (Tây Ninh), mẹ Nguyễn Thị Rành ở Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh), mẹ Nhu, mẹ Cộng (Quảng Nam - Đà Nẵng), mẹ Thạch Thị Thanh (Trà Vinh), má Nguyễn Thị Nhâm người mang mật danh JB4 (Đồng Nai).v.v...
 · Phục vụ chiến trường: Khi chiến tranh mở rộng, chiến trường đòi hỏi một đội ngũ dân công đông đảo để phục vụ chiến đấu. Số đông dân công đó là phụ nữ, nhất là nữ thanh niên, được tổ chức trong các đội: nữ dân công, nữ thanh niên xung phong. Chị em làm các việc cấp dưỡng, nuôi quân, tiếp tế đạn dược, tiếp tế lương thực, tải thương, xây dựng công sự chuẩn bị chiến trường... Ưu điểm nổi bật của các đội nữ dân công, nữ thanh niên xung phonglà bám sát tiền duyên, nhanh chóng đưa thương binh, tử sĩ về tuyến sau, biểu lộ một tình yêu thắm thiết và tinh thần trách nhiệm cao.
Text Box: Đấu tranh vũ tranghttp://www.baotangphunu.com/images/stories/img_slide/4.jpgVề nữ dân công không thể không nhắc đến đội xe đạp thồ gồm 22 chị em ở Sông Bé, hoạt động từ năm 1967 đến năm 1971, vượt qua bom đạn và muôn vàn khó khăn thiếu thốn đã đưa từ hỏa tuyến về phía sau an toàn trên 100 thương binh, vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí, lương thực, đạn dược cho chiến trường. Các đội nữ dân công thường trực của từng xã thuộc các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa... các đơn vị nữ ở các tiểu đoàn vận tải thuộc Khu 8, Khu 9; các đội nữ thanh niên xung phong miền Tây đi phục vụ chiến trường với khẩu hiệu: "xung phong đi trước, vượt mọi gian nguy, đâu cần cũng đi, tiến lên hoàn thành nhiệm vụ". Đặc biệt các đội nữ dân công phục vụ trên tuyến đường Trường Sơn đảm bảo chi viện của miền Bắc cho miền Nam, trong đó tấm gương của chị em người Thượng thật đáng kính và xúc động: Có chị em trước ngực địu con, sau lưng cõng hàng mà vẫn tháng ngày thoăn thoắt trên đường rừng núi như những chiến sĩ chân đồng vai sắt. Nhiều chị em vận tải hàng với khối lượng của mình mà vẫn đảm bảo đi đến nơi đến chốn, lập nên những kỷ lục kỳ diệu.
Trên các đường dây giao liên, đặc biệt là giao liên công khai trên chiến trường đô thị, vai trò đặc biệt của phụ nữ không thể nào thay thế được.
·   Chăm lo công tác hậu phương: Trong khi nhân dân miền Nam dồn sức cho tiền tuyến đánh địch, phụ nữ miền Nam là lực lượng sản xuất chủ yếu ở nông thôn, gánh vác công việc đồng áng dưới bom đạn và chất độc hóa học của địch, đảm bảo cung cấp lương thực, vừa nuôi gia đình, vừa đóng góp cho cách mạng. Khi cách mạng mở rộng vùng giải phóng, đông đảo phụ nữ đã tham gia công tác xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, quản lý xóm làng. Tỷ lệ phụ nữ trong nhiều hội đồng nhân dân và ủy ban giải phóng là 40%. Các chị vừa lo việc nước vừa gách vác việc nhà thay chồng nuôi con, làm tròn thiên chức làm mẹ với con cái, thủy chung với chồng thoát ly đánh giặc.
http://www.sggp.org.vn/dataimages/original/2012/10/images437911_Z7c.jpg · Trên mặt trận ngoại giao: Cùng với uy tín của Mặt trận Dân tộc giải phóng, của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, vai trò của phụ nữ miền Nam ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế. Nhiều cán bộ ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam là nữ, như các chị: Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Chơn, Đỗ Duy Liên, Nguyễn Ngọc Dung, Phạm Thanh Vân (bà Ngô Bá Thành); nhiều cán bộ nữ đứng đầu đoàn đại biểu của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đi công tác ở nước ngoài. Trong các đoàn đại biểu phụ nữ miền Nam ra hoạt động ở nước ngoài, ở các hội nghị quốc tế có nhiều chị em là nhân chứng sống tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ. Chị em còn tranh thủ mời nhiều nhà báo nữ tiến bộ như chị Madelène Riffaud (Pháp), chị Monica (Ba Lan), chị Marta (Cu Ba)... vào thăm vùng giải phóng miền Nam, tổ chức được đại hội phụ nữ quốc tế ngay tại Sài Gòn... Với phong thái ung dung, bản chất dịu dàng, tình cảm hữu nghị, lý lẽ sắc bén, các chị đã thuyết phục có hiệu quả nhiều người trong giới cầm quyền ở một số nước thân Mỹ còn hoài nghi Việt Nam, làm cho họ thay đổi thái độ, các chị còn kết hợp linh hoạt việc tranh thủ các nhân vật trong chính giới với việc tạo điều kiện cho nhân dân nước đó hiểu rõ và ngày càng có cảm tình với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ.
Text Box: Bác Hồ với các anh hùng và chiến sĩ thi đua miền Nam. (Đồng chí Tạ Thị Kiều thứ hai từ trái sang). Phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà thật xứng đáng với tám chữ vàng: "Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang". Phong trào phụ nữ miền Nam trong những năm chống Mỹ cứu nước thực chất là một cuộc vận động cách mạng sâu sắc và rộng lớn nhất của giới nữ, thể hiện được sự kết hợp hài hòa giữa ba mặt: dân tộc, giai cấp và giới; là một bộ phận khắng khít của phong trào cách mạng rộng lớn của nhân dân miền Nam, nhân dân Việt Nam nói chung, đấu tranh cho mục tiêu thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc.
Nhân dân ta đời đời biết ơn những bà mẹ Việt Nam chẳng những "đã sản sinh ra và cống hiến cho Tổ quốc những người con ưu tú đã và đang chiến đấu anh dũng, bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại" mà tự mình đã cống hiến cho Tổ quốc tài năng, trí tuệ và lòng dũng cảm tuyệt vời để đánh đuổi bọn giặc ngoại xâm giải phóng đất nước, bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, nêu những gương sáng cho con cháu mai sau.
("Chung một bóng cờ" - NXB Chính trị quốc gia)
 
 
Bộ sưu tập tư liệu và hình ảnh Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam

Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 đã ghi: “nam nữ bình quyền”. Đảng đã sớm nhận rõ: phụ nữ là một lực lượng quan trọng của cách mạng, không có phụ nữ thì cách mạng không thể thành công. Từ đó Đảng đề ra nhiệm vụ: giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng dân tộc, phải thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi kéo các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng. Tuỳ theo tình hình và nhiệm vụ của từng thời kỳ, Hội Phụ nữ có nhiều tổ chức và tên gọi khác nhau: Phụ nữ Hiệp Hội, Phụ nữ Giải Phóng, Phụ nữ Dân Chủ, Phụ nữ Phản Đế, Đoàn Phụ nữ Cứu Quốc, Hội Liên Hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam, Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam. Từ năm 1948 Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ thế giới. Năm 1976, tổ chức Hội phụ nữ ở hai miền Nam – Bắc (Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam) hợp nhất lại thành một tổ chức thống nhất là Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Phong trào phụ nữ cả nước và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã đạt nhiều thành tích xuất sắc góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nên được Đảng và Nhà Nước tặng thưởng các danh hiệu:
- “Anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang” (cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam năm 1965)
- “Phụ nữ Việt Nam dũng cảm - đảm đang chống Mỹ cứu nước” (cho Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam năm 1966)
- “Đổi mới - đoàn kết - trung hậu - đảm đang” (1992)
- “Phụ nữ Việt Nam trung hậu – đảm đang – tài năng và anh hùng” (1995)
- “Năng động -sáng tạo - trung hậu - đảm đang” (2002)
 Với bộ sưu tập 1.315 tư liệu và hình ảnh với nhiều nội dung phong phú như: phong trào phụ nữ những năm đầu thế kỷ XX, trang bị của cán bộ Hội trong kháng chiến, những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Hội phụ nữ, … sẽ giúp các bạn hình dung được sự trưởng thành và lớn mạnh của Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam với những đóng góp thiết thực vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước trong quá khứ và đương đại.

Phong trào phụ nữ “ Ba đảm đang”- một mốc son trong lịch sử phụ nữ Việt Nam
Text Box: Bác Hồ thăm nông dân đang gặt lúa trên cánh đồng xã Hùng Sơn, H.Đại Từ (Thái Nguyên) năm 1954 - Ảnh: Tư liệuCách đây gần 40 năm, đế quốc Mỹ đã ồ ạt dùng không quân và hải quân leo thang bắn phá hòng huỷ diệt miền Bắc, quyết tâm đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá, nhằm phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngăn chặn sự ủng hộ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Thấm nhuần chân lý ”Không có gì quý hơn độc lập tự do”, hàng triệu phụ nữ đủ các tầng lớp, lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo đã hăng hái đứng lên đánh giặc cứu nước, bảo vệ và xây dựng miền Bắc XHCN, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Với khẩu hiệu “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, toàn miền Bắc đã dấy lên một phong trào tình nguyện vào miền Nam chống Mỹ cứu nước; đồng thời vừa tích cực lao động sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Khắp nơi, thanh niên nô nức lên đường tòng quân, xung phong đi chiến đấu. Phụ nữ các địa phương đã hăng hái làm đơn tình nguyện gửi Uỷ ban nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam... xin được làm thêm những công việc của nam giới để sẵn sàng thay thế anh em đi chiến đấu. Đứng trước khí thế cách mạng đó, Hội LHPNVN phát động phong trào phụ nữ Ba đảm nhiệm với 3 nội dung

-  Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi chiến đấu

-  Đảm nhiệm gia đình khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu

-  Đảm nhiệm phục vụ chiến đấu

Phong trào do Hội LHPNVN nghiên cứu, chủ động đề xuất với TW Đảng và chính thức phát động vào tháng 3/1965 trên toàn miền Bắc. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp sửa lại là phong trào “ Ba đảm đang”.

Nhìn lại trang sử vàng của gần 40 năm về trước, chúng ta có quyền tự hào mà khẳng định rằng: Phong trào phụ nữ Ba đảm đang là một mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam cũng như hoạt động của Hội LHPNVN. Với việc tham gia tích cực trong phong trào Ba đảm đang, phụ nữ Việt Nam đã thể hiện được vai trò, khả năng cách mạng to lớn, tinh thần yêu nước, lao động sáng tạo, ý chí tự cường vươn lên, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân của hàng chục triệu phụ nữ thời đại Hồ Chí Minh.

         Phong trào phụ nữ Ba đảm đang đã chứng minh một cách hùng hồn khả năng cách mạng vô cùng to lớn và phong phú của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam

 Phong trào ba đảm đang là một phong trào cách mạng của quần chúng phụ nữ, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp phụ nữ hăng hái thi đua, trở thành sức mạnh hùng hậu của hàng chục triệu phụ nữ trên mọi lĩnh vực hoạt động, đoàn kết cùng nhân dân và phụ nữ miền Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng, bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trên mặt trận lao động sản xuất, hàng triệu phụ nữ nông dân vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu với khẩu hiệu “ tay cày, tay súng”, chị em đã sôi nổi thi đua đảm đang thay nam giới làm chủ đồng ruộng, tích cực học tập và áp dụng thành thạo kỹ thuật mới , hăng hái học cầy, học bừa, sử dụng các loại công cụ cải tiến và cơ khí nhỏ. v.v... Phong trào kết nạp các anh hùng, chiến sĩ miền Nam như Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Văn Trỗi, Út Tịch làm xã viên danh dự để phấn đấu làm thêm phần việc của hội viên danh dự đã phát triển rộng khắp ở nhiều địa phương trên miền Bắc. Thi đua với Thái Bình, tỉnh đầu tiên trên miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha, đến năm 1972, đã có 3.468 hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn thóc/ha, tăng gấp 5 lần năm 1965. Trong phong trào đã xuất hiện nhiều tấm gương phụ nữ nông dân mới, dám nghĩ, dám làm, góp phần cải tạo và xây dựng nông thôn mới mà tiêu biểu là 11 nữ anh hùng lao động trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ lợi như Nguyễn Thị Song (Hà Bắc), Nguyễn Thị Chén (Hà Tây), Phạm Thị Vách (Hải Hưng)…trên các công trường, nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, hàng triệu phụ nữ đã không quản ngày đêm hăng hái thi đua lao động sản xuất. Với khẩu hiệu “ Tim có thể ngừng đập, máy không thể ngừng chạy”, hàng chục vạn nữ công nhân đã nêu cao tính tiền phong gương mẫu của giai cấp công nhân, kiên quyết gửi con đi sơ tán, anh dũng bám sát vị trí sản xuất và chiến đấu. Lao động quên mình để giữ vững và phát triển sản xuất ngay dưới làn bom đạn của kẻ thù. Trên các công trường, xí nghiệp, hầm mỏ, chị em tham gia sôi nổi các phong trào thi đua” Giỏi một nghề, biét nhiều việc”, “ Luyện tay nghề, thi thợ giỏi”... Với tinh thần kiên cường bám máy sản xuất, dũng cảm chống địch đánh phá, bảo vệ nhà máy, khẩn trương tranh thủ sản xuất, nhiều nhà máy, xí nghiệp đông nữ đã liên tục hoàn thành kế hoạch từ 5 đến 12 năm. Nhiều đơn vị, cá nhân liên tục đạt ngày công, giờ công cao, phát huy sáng kiến, hoàn thành kế hoạch, được Nhà nước tuyên dương đơn vị anh hùng như tổ sợi 1 máy con ca A ( Nhà máy dệt Nam Định). Anh hùng lao động Cù Thị Hậu, công nhân nhà máy dệt 8/3, chồng đi chiến đấu, 2 con còn nhỏ vẫn phấn đấu kiên trì suốt 8 năm chiến tranh đảm bảo ngày công bình quân cao nhất nhà máy, trong 9 năm dệt vượt mức kế hoạch hơn 8 vạn mét vải.
Trong ngành tiểu thủ công nghiệp, phụ nữ chiếm 52% thợ thủ công chuyên nghiệp. Chị em đã đã tích cực học tập, nâng cao trình độ văn hóa, nghề nghiệp. Mặc dù cơ sở phải phân tán, sơ tán chị em vẫn lao động bảo đảm ngày công và chất lượng sản phẩm, thực hiện vượt mức kế hoạch nhiều năm, đưa hợp tác xã trở thành những đơn vị lao động tiên tiến như HTX dệt Thành Công ( Hà Nội), Đoàn Kết ( Hà Tây), Đại Đồng ( Ninh Bình)...

Trong ngành xây dựng cơ bản, chị em đã vượt mọi gian khổ hy sinh, góp phần xây dựng những công trình công nghiệp và dân dụng. Nhiều tổ nữ đã phát huy tinh thần trách nhiệm, nắm vững quy trình kỹ thuật và bảo đảm tốt chất lượng công trình. Chị em ở các nông trường vừa phục vụ chiến đấu và chiến đấu, vừa lao động sản xuất bảo đảm kế hoạch Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện, phục vụ cho đời sống và xuất khẩu. Nữ công nhân viên chức ngành bưu điện đã bám trụ phục vụ chiến đấu ở nơi trọng điểm, bình tĩnh, gan dạ, giữ vững vị trí, bảo đảm thông tin liên lạc chính xác, kịp thời. Chị em ngành lâm nghiệp, địa chất dũng cảm vượt núi, băng rừng thăm dò nghiên cứu, trồng cây gây rừng, góp phần làm giầu cho đất nước.
Chiếm tỷ lệ gần 60% trong ngành y tế, chị em đã góp phần xây dựng rộng khắp màng lưới y tế phục vụ phòng bệnh, chữa bệnh, xây dựng trạm xá, nhà hộ sinh. Dũng cảm xông vào lửa đạn để cứu chữa nạn nhân, thực hiện khẩu hiệu “Thầy thuốc như mẹ hiền’, tận tuỵ phục vụ người bệnh, có nhiều sáng kiến, công trình nghiên cứu thiết thực phục vụ chiến đấu và đời sống. Nhiều bệnh viện, 70% số lao động là nữ đã lập thành tích xuất sắc, được chính phủ tặng thưởng Huân chương.

Trong lĩnh vực giáo dục, phụ nữ chiếm 52% số cán bộ nhân viên đã tích cực xây dựng trường sở, đào hầm hào tránh máy bay địch, dạy thêm lớp, dạy thêm giờ, đảm bảo cho gần 5 triệu học sinh được tiếp tục học tập an toàn. Với tấm lòng yêu thương học sinh như mẹ hiền, nhiều cô giáo đã hết lòng chăm sóc học sinh, dạy dỗ kèm cặp, rèn luyện các em trở thành con ngoan, trò giỏi. Nhiều chị em đã kiên trì phấn đấu, khắc phục khó khăn, tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp, trở thành giáo viên dạy giỏi nhiều năm liền.

Trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, nhiều chị em đã khắc phục mọi khó khăn, đi phục vụ ở những nơi gian khổ ác liệt, đem lời ca, tiếng hát, điệu múa, bài thơ, những vở kịch, vai diễn... đến phục vụ các chiến sĩ và đồng bào nơi tuyến lửa, cổ vũ nhân dân ở hậu phương, góp phần giới thiệu với bạn bè trên thế giới về truyền thống văn hóa lâu đời và những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc ta.
Trong ngành thương nghiệp, lương thực, thực phẩm, phụ nữ chiếm tỷ lệ gần 60% đã góp phần đẩy mạnh công tác lưu thông phân phối, giữ vững giá cả, đảm bảo những nhu cầu cơ bản của sản xuất và đời sống nhân dân. Nhiều chị em đã bám trụ phục vụ ở những nơi trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc, xông pha trong bão lụt để bảo vệ tài sản nhà nước, tiếp tế cho nhân dân. Nhiều đơn vị, cửa hàng toàn nữ đã trở thành tổ đội lao động XHCN nhiều năm liền.

Chẳng những là lực lượng lao động đông đảo, sáng tạo trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, phụ nữ còn là lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu hết sức gan dạ, dũng cảm.

 
Thực hiện khẩu hiệu” Tay búa, tay súng”, “ Tay cày, tay súng’, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào các lực lượng dân quân và tự vệ chiến đấu ở khắp mọi nơi, từ miền xuôi đến miền núi. Nhiều chị em đã trực tiếp cầm súng chiến đấu, với tinh thần gan dạ, thông minh, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, chiến thuật quân sự đã phối hợp với các đơn vị bộ đội, dân quân, góp phần bắn rơi 4.181 máy bay Mỹ. Có 20 đơn vị nữ dân quân tự vệ đã độc lập tác chiến bắn rơi 28 máy bay Mỹ. Ba đơn vị nữ được tặng danh hiệu đơn vị anh hùng là trung đội nữ dân quân xã Hoa lộc, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá, tiểu đội nữ dân quân xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, đại đội nữ pháo binh xã Ngư Thuỷ huyện Lệ Thuỷ, Quảng Bình. Nhiều nữ thanh niên đã tình nguyện tham gia bộ đội chủ lực, phục vụ trong các ngành khoa học hiện đại ở các binh chủng, tham gia các công tác thông tin, hậu cần, quân y, quân nhu, quân giới v.vv...

Trong công tác phục vụ chiến đấu, phát huy tinh thần gan dạ, khả năng phong phú và tình cảm nồng hậu vốn có của mình, phụ nữ đã chứng tỏ là lực lượng cách mạng hùng hậu của cuộc chiến tranh nhân dân. Từ công tác phòng không nhân dân, bảo vệ trật tự trị an, cho đến việc đào đắp công sự, tiếp phẩm, tải đạn, cứu thương, bắt giặc lái , biệt kích, phá gỡ bom mìn, giải quyết hậu quả sau các trận địch đánh phá v.vv... không có việc gì không có phụ nữ tham gia.
Trên mặt trận giao thông vận tải, thực hiện lời thề “ Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, chị em trong các đơn vị giao thông vận tải, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến sẫn sàng xả thân bảo vệ mạch máu từ trái tim của Tổ quốc vào tiền tuyến lớn miền Nam. Ở khắp nơi, đông đảo phụ nữ đã tham gia công tác giao thông nhân dân, bảo vệ, sửa chữa cầu đường, san lấp hố bom, vận chuyển, cất giấu hàng hoá, nêu cao khẩu hiệu “Xe chưa qua, nhà không tiếc”, tự tay dỡ nhà mình để mở đường cho xe, pháo đi.

Ở hậu phương, được sự giúp đỡ của chính quyền, đoàn thể, chị em đã tận tình chăm sóc cha mẹ già, giữ trọn đạo thuỷ chung, vừa sản xuất vừa hoạt động xã hội, vừa lo công việc gia đình, góp phần bảo đảm cho hàng triệu con em được ăn no, mặc ấm, được học hành.

Trong phong trào toàn dân ủng hộ bộ đội và chăm sóc gia đình bộ đội, nổi bật là hoạt động vô cùng phong phú, sinh động của Hội mẹ chiến sĩ. Hàng vạn bà mẹ có tấm lòng yêu nước thương con, vừa tích cực động viên con cháu mình lên đường giết giặc, vừa ân cần nuôi nấng, giúp đỡ và bảo vệ cán bộ, chiến sĩ khác như con cháu mình.
Được tôi luyện và trưởng thành trong phong trào “Ba đảm đang”, đội ngũ cán bộ nữ đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, phát huy được vai trò tác dụng trên mọi cương vị khác nhau, đáp ứng yêu cầu tăng cường cán bộ của Đảng và Nhà nước. Tỷ lệ đại biểu nữ trong quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp không ngừng tăng ( trong quốc hội khoá II năm 1960, tỷ lệ phụ nữ là 11,6%; khoá IV năm 1971, tỷ lệ nữ là 29,76 %). Năm 1972 đã có trên 50 chị làm chủ tịch, phó chủ tịch uỷ ban hành chính cấp huyện và xã, gần 2.000 chị làm trưởng phó phòng ở các cơ quan TW, tăng gấp 15 lần năm 1965, 130 chị làm giám đốc và phó giám đốc xí nghiệp, tăng hơn 2 lần so với năm 1965.

Thực tiễn hoạt động của phong trào Ba đảm đang đã chứng minh vai trò, vị trí của người phụ nữ đã được nâng lên môt tầm cao mới. Chị em chẳng những đã hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ người công dân trên các lĩnh vực sản xuất, công tác, phục vụ chiến đấu và chiến đấu mà còn tích cực học tập, phấn đấu nâng cao trình độ, rèn luyện phẩm chất và nghị lực để gánh vác mọi nhiệm vụ mới nặng nề hơn thay thế nam giới đi chiến đấu. Do đó, trách nhiệm và vai trò của phụ nữ với gia đình và xã hội được nâng lên gấp bội. Hoàn cảnh lịch sử đó cũng là thời cơ thuận lợi phát huy tiềm năng, trí tuệ của hàng triệu phụ nữ.Trong phong trào đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, lập nhiều thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang chống Mỹ cứu nước”, góp phần cùng với toàn quân, toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đấu tranh thống nhất nước nhà đến thắng lợi hoàn toàn.
Phong trào phụ nữ Ba đảm đang còn là bằng chứng sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chiến đấu gan dạ, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân của những người phụ nữ thế hệ Hồ Chí Minh.

Lịch sử mãi mãi khắc ghi những chiến công vẻ vang, những hành động anh hùng quả cảm, những tấm gương chiến đấu hy sinh anh dũng của những người phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đó là là bà mẹ anh hùng Nguyễn Thị Suốt vượt bao mưa bom bão đạn chèo đò đưa bộ đội qua sông Nhật Lệ để vào Nam chiến đấu. Anh hùng Trần Thị Lý, người nữ dân quân trẻ tuổi Quảng Bình vượt gian khổ hoàn thành công tác giao thông liên lạc trên tuyến lửa, trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu ngoan cường và dũng cảm. Anh hùng Nguyễn Thị Hạnh, người cán bộ Công an cơ sở thành phố Vinh, người mẹ 6 con đã nêu cao tấm gương “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, Vũ Thị Thanh Nhâm, người xã đội phó trẻ tuổi của tỉnh Nam Hà, anh hùng gan dạ, mưu trí, phá bom nổ chậm, cứu nguy cho đồng đội và nhân dân. Anh hùng La thị Tám, 23 lần bị bom vùi vẫn không rời vị trí, bình tĩnh quan sát máy bay địch đếm từng quả bom rơi, đánh dấu từng quả bom chưa nổ để tạo điều kiện thuận lợi cho công binh phá bom nổ chậm. Đặc biệt là tiểu đội nữ anh hùng 10 cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh, gần 200 ngày đêm trụ lại dưới bom đạn để sửa đường thông xe, bị thương vẫn không rời vị trí, đã anh dũng hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ, nêu cao tấm gương dũng cảm tuyệt vời, mãi mãi sáng ngời với non sông đất nước. Có những nữ dân quân dũng cảm như Bùi Thị Vân, phân đội súng trường xã Lai Vu, huyện Kim Thành, Hải Dương “Rắn quấn bên chân vẫn diệt thù”. Cô Chu Thị Ngọ, cô nuôi dạy trẻ ở Nhật Tân, Hà Nội dũng cảm lấy thân mình che chở cho các cháu. Cô đã bị tên lửa Mỹ giết hại trong lúc trên tay còn bế hai cháu an toàn. Trong mười hai ngày đêm cuối năm 1972, quân và dân Hà Nội đã làm nên kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không”. Trong chiến công đó có phần đóng góp của chị em phụ nữ Thủ đô mà nòng cốt là các nữ tự vệ, dân quân, các đội cứu thương, tiếp tế, cứu sập hầm v.v... đã tích cực góp phần phục vụ chiến đấu, tham gia chiến đấu khắc phục hậu quả chiến tranh. Tiêu biểu cho tinh thần đó có 21 chị được tặng huy hiệu Bác Hồ, 6 chị được kết nạp Đảng ngay tại trận địa.
Kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam đã chứng minh khả năng cách mạng to lớn, tài trí thông minh, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, quyết chiến đấu và dám hy sinh vì lý tưởng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tiêu biểu là những cá nhân và tập thể ưu tú được tặng thưởng các danh hiệu thi đua cao quý: 42 nữ anh hùng, 9 đơn vị nữ anh hùng, 1.718 chị em được tặng thưởng huy hiệu Bác Hồ, trên 5.000 nữ chiến sĩ thi đua và trên 3 triệu hội viên đạt danh hiệu phụ nữ “ ba đảm đang”.

Những đóng góp, hy sinh to lớn và những thành tích, chiến công lẫy lừng của chị em phụ nữ miền Bắc trong phong trào ba đảm đang là những trang sử vàng chói lọi trong lịch sử của phụ nữ Việt Nam. Những thành tích ấy không tách rời cuộc chiến đấu vô cùng oanh liệt của nhân dân và phụ nữ miền Nam anh hùng.

Vượt qua bao thử thách khốc liệt, phụ nữ miền Nam vẫn bám chặt mảnh đất quê hương, kiên trì chiến đấu, lập nên những chiến công lẫy lừng trên các mặt trận đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, binh vận cũng như trong mọi hoạt động sản xuất, công tác, xây dựng vùng giải phóng. Chị em đã góp phần xuất sắc cùng với quân dân miền Nam làm thất bại mọi âm mưu chiến lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri và cuối cùng đã làm nên chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn.

 
Dưới sự lãnh đạo của mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, được sự tổ chức hướng dẫn của Hội LHPN giải phóng miền Nam Việt Nam, phụ nữ miền Nam luôn luôn là là lực lượng hùng hậu kiên định, vừa có tài trí thông minh sáng tạo tuyệt vời, vừa thể hiện lòng trung kiên vô hạn đối với cách mạng, xứng đáng với 8 chữ vàng” Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. “Đội quân tóc dài”- niềm tự hào của dân tộc, nỗi khiếp sợ của kẻ thù đã liên tiếp tiến công địch bằng 3 mũi giáp công, đã bịt họng súng, đẩy lùi xe tăng, không cho máy bay địch cất cánh, làm tan rã và tiêu diệt sinh lực địch. Các nữ anh hùng , dũng sĩ diệt Mỹ, đánh giặc bằng đủ các loại vũ khí từ thô sơ đến hiện đại, đã lập nhiều chiến công chói lọi, tiêu biểu là các nữ anh hùng Nguyễn Thị Út, Tạ Thị Kiều, Kan Lịch, Lê Thị Thanh, Nguyễn Thị Lài, các nữ liệt sĩ Tô Thị Huỳnh, Lê Thị Hồng Gấm, Trần Thị Tâm, tiểu đội 11 cô gái Sông Hương đã dũng cảm chiến đấu, đánh lui một tiểu đoàn địch trong chiến dịch Mậu thân 1968; nữ biệt động Nguyễn Thị Trung Kiên mưu trí, gan dạ dẫn đường cho xe tăng tiến vào giải phóng Sài Gòn,v.vv... ở sâu trong lòng địch, các má, các chị đổ bao xương máu vẫn bám đất, bám dân “ một tấc không đi, một ly không rời”, nuôi quân giết giặc, đào hầm bảo vệ cán bộ, nuôi dưỡng thương binh. Trong nhà tù, dù bị tra tấn, đầy đoạ bằng mọi thủ đoạn man rợ nhất, các má, các chị vẫn nêu cao tấm gương bất khuất, một lòng một dạ kiên trung với cách mạng. ở đô thị, các tầng lớp phụ nữ, không phân biệt tôn giáo, chính kiến, vì độc lập và hoà bình, vì nhân phẩm và quyền sống của phụ nữ, đã anh dũng đấu tranh bất chấp sự khủng bố dã man của địch. Trong vùng giải phóng, các tầng lớp phụ nữ ra sức đẩy mạnh sản xuất, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, tham gia xây dựng cuộc sống mới, xây dựng chính quyền nhân dân. Nhiều nữ cán bộ, đại biểu xuất sắc của nhân dân và phụ nữ miền Nam anh hùng đã tham gia lãnh đạo chính quyền cách mạng mà tiêu biểu là Phó tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hội LHPN giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Định, bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình...
Để có cuộc sống độc lập, tự do, hoà bình và hạnh phúc như ngày hôm nay, chúng ta vô cùng tự hào và biết ơn về những cống hiến lớn lao của những Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã hiến dâng những người con thân yêu của mình cho Tổ quốc. Chúng ta có quyền tự hào về những đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, tự hào về những chiến công, những kỳ tích của phụ nữ miền Bắc trong phong trào Ba đảm đang. Phát huy truyền thống vẻ vang trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hôm nay, phụ nữ Việt Nam đang vững bước đi lên, tích cực học tập, lao động sáng tạo, góp phần cùng với toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” vì sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Tháng 01 năm 2005-(Theo hồ sơ lưu trữ tài liệu phong trào "3 đảm đang" của TW Hội LHPNVN)
 
Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"

 

Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".
Báo chí phương Tây đã từng dành nhiều trang sách, bài báo để nói về sự xuất hiện cùng sức mạnh của "đội quân tóc dài" Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta vừa qua. Đã có khá nhiều bài bình luận, kể cả những huyền thoại chung quanh đội quân đặc biệt này.

Mấy nét về lịch sử ra đời của đội quân tóc dài

  Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là "Bình trị Kiến Hòa" với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo.
  Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là "tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. Trước cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con "tản cư". Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.
   Trước áp lực của đông đảo quần chúng, quận trưởng Mỏ Cày đành phải hứa sẽ chuyển ngay yêu sách của đồng bào lên tỉnh trưởng Bến Tre và ra lệnh giúp đỡ đồng bào để nhằm xoa dịu dư luận. Đến ngày thứ 12 của cuộc đấu tranh, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân, từ Sài Gòn phải bay xuống thị sát tình hình và sau đó ra lệnh rút quân. Thế là trước sức mạnh của những người phụ nữ không một tấc sắt trong tay, cả binh đoàn sừng sỏ của địch đành phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân. Nguyễn Văn Y cay cú nói với bọn sĩ quan thuộc cấp: “Thôi đành phải chịu thua “đội quân đầu tóc”” (!).

   Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam.

   Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của "đội quân tóc dài", chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi. Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa.
  Trong khi đó “đội quân tóc dài" trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức.

  Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người.

   Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay.

  Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
Ý kiến bạn đọc
Tin liên quan